Phỏng vấn các nhà báo về giáo dục!

Lời tòa soạn: Thời gian vừa qua có một số nhà báo có nhã ý đề nghị tôi hợp tác, nhất là các chủ đề liên quan đến giáo dục. Tôi tạm từ chối vì nhiều lí do. Thứ nhất vì tôi không/chưa phải là chuyên gia. Thứ hai là  người (đàn ông) nào cũng nên luyện tập kiềm chế sự sung sướng nhất thời, một kỹ năng sống hữu ích. Nhưng quan trọng nhất là tôi thực sự nghĩ, những kiến thức của một trí thức xa lông như mình không thể trung thực và sâu sắc được bằng kiến thức của chính các bạn, những “phóng viên chiến trường” trong một lĩnh vực cực kỳ phức tạp như giáo dục Việt Nam. Vì thế tôi đã đề nghị được phỏng vấn ngược họ để đưa lên blog của mình.

Rất may là đề nghị này được hai  nhà báo (trong số những người tôi tiếp cận) đồng ý, một báo mạng và một báo in, đều là những báo rất quen thuộc. Đúng như cảm nghĩ ban đầu, câu trả lời của các bạn rất chân thành và bổ ích, đã giúp tôi hiểu thêm nhiều điều. Dù vì là lần đầu nên tôi cố gắng đưa ra những câu hỏi khá an toàn, nhưng các bạn trả lời “thật thà” đến mức chúng tôi quyết định sẽ không đăng tên các bạn, vì hơi ngại rằng sẽ ảnh hưởng đến công việc chuyên môn của họ. Thích nhất là sau bài phỏng vấn được các nhà báo khen rằng “Bạn cũng có khiếu làm nhà báo!”. Đúng là biết kìm sự sung sướng nhỏ sẽ có sự thăng hoa lớn!

Dưới đây là toàn bộ bài phỏng vấn. (NB1 là từ báo mạng, và NB2 là từ báo in. Một điều thú vị là NB1 nhắc đến NB2 trong bài trả lời của mình, dù lúc đó bạn ấy chưa biết mình sẽ phỏng vấn ai!)

1) Xin cảm ơn bạn đã đồng ý trả lời câu hỏi của mình. Để bắt đầu, là phóng viên về giáo dục có những đặc thù gì so với những lĩnh vực khác? Bạn có thể chia sẻ một kỷ niệm đáng nhớ khi tác nghiệp?

NB1: Phóng viên giáo dục nom lành hơn phóng viên nội chính (bám mảng pháp luật, chính trị), chắc chắn là ít người đi ô tô đi làm hơn so với phóng viên kinh tế, ít nhộn nhịp và xinh tươi hơn phóng viên giải trí. Nhưng hãy thử dự một buổi họp báo, thì độ “gấu” trong việc đeo bám sự kiện của họ cũng không “lành” đâu nhé. Cứ xem NB2 quyết liệt như thế nào khi chất vấn cho đến cùng Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển (và những lãnh đạo khác) về một vấn đề gì đó thì sẽ rõ, dù ngoài đời, phóng viên và quan chức đôi khi trêu đùa nhau rất vui. Kỷ niệm đáng nhớ kể ra thì xấu hổ chết, nhưng tôi nghĩ nhân vật của mình là người đại lượng. Thôi, để lúc nào tiện thì tôi sẽ kể vậy.

NB2: Đặc thù? Khó nhỉ, vì dường như chẳng có nét đặc thù nào. Có chăng là hình như phóng viên GD hơi nhiều nữ? (Đặc điểm này có thể do tòa soạn nào cũng ưu tiên lực lượng tinh nhuệ nhất của họ – tức là các bạn nam – cho các mảng ngành đòi hỏi sự xông pha quyết liệt hơn cũng như có sức khỏe tốt hơn). Bất kỳ phóng viên nào được tòa soạn phân công theo dõi mảng giáo dục cũng đều có thể trở thành phóng viên giáo dục, bất kể họ có chút hiểu biết nào về lĩnh vực giáo dục hay không! Thật ra nghề báo là thế, mỗi nhà báo đều trưởng thành nhờ quá trình tự học, chứ trường ĐH không hề giúp chút nào kiến thức lĩnh vực mà họ sẽ được phân công theo dõi sau này. Khởi đầu chỉ cần đưa tin. Vì thế bài học quan trọng với mỗi nhà báo khi bắt đầu vào nghề không phải là kiến thức về lĩnh vực mình theo dõi mà là cách tạo lập các mối quan hệ với các nguồn tin.

Kỷ niệm đáng nhớ: Rất nhiều, ngồn ngộn ấy. Nhưng để gọi tên một kỷ niệm mà nó hàm chứa điều gì đó có ý nghĩa với cuộc đời một nhà báo giáo dục lại là điều rất khó. Thôi, thì tạm nhắc tới kỷ niệm này. Đó là mùa hè năm 2006, lúc đó ông Nguyễn Thiện Nhân vừa được bổ nhiệm chức Bộ trưởng Bộ GD-ĐT. Trước đó, cuối tháng 5 đầu tháng 6 có sự kiện thi tốt nghiệp THPT, thầy Đỗ Việt Khoa đã khiến cả nước rúng động vì những tố giác về tiêu cực trong thi cử. Khi lên Bộ trưởng, ông Nguyễn Thiện Nhân đã có cuộc làm việc ở UBND tỉnh Hà Tây, sau đó từ Hà Đông về nhà thầy Khoa ở huyện Thường Tín. Hồi đó, cánh phóng viên GD chúng tôi tác nghiệp trong một bối cảnh bị động, nơm nớp lo âu bởi cảm giác như “người ta” có thể gạt mình lại bất kỳ lúc nào! (He he he, đúng là thật thiếu kinh nghiệm với các nhà chính trị). Tôi nhớ khi xe chở ông Nhân rời khỏi Hà Đông theo đường quốc lộ 70 tiến về Văn Điển để đi Thường Tín, cả một đoàn nhà báo chạy theo như vịt. Lúc đó trời xâm xẩm tối. Mà hình như trời lại mưa. Đến nhà thầy Khoa, ông Nhân hỏi han mấy câu, rồi tặng thầy cái áo sơ mi và cây bút, thầy Khoa thì phải nói, xúc động đến run lập cập.

Chính ra ông Nhân là người khiến chúng tôi rất bận bịu. Lúc nào cũng hối hả chạy theo. Mà ông Nhân ấy mà, ông ấy khỏe lắm, đi rất nhanh. Chẳng hiểu sao mấy anh cận vệ của ông Nhân (khi ông ấy lên làm Phó Thủ tướng nhưng vẫn kiêm Bộ trưởng Bộ GD-ĐT) rất mẫn cán (quá mức cần thiết)! Tôi là người bị đội ấy chặn lại khá nhiều. Có lần tôi còn khóc nức nở ở sân Bộ GD, vì một cậu cận vệ rất đẹp trai. Về sau tôi với cậu ấy lại hay nói chuyện với nhau mới chết chứ (lược bỏ một đoạn vì có thông tin cá nhân–LTS).

2) Bạn có thu lượm được những kiến thức bổ ích nào trong khi làm việc để áp dụng cho quá trình làm cha mẹ của mình?

NB1: Con tôi mới hơn 2 tuổi và lúc nào tôi cũng thấy mình thiếu thời gian để ở bên cạnh để chơi cùng, lớn cùng con. Tôi thu lượm được nhiều kiến thức, bài học, góc nhìn, v.v để áp dụng cho quá trình làm cha mẹ của mình.

NB2: Rất bổ ích. Bổ ích không phải bởi các lý thuyết và mô hình GD mà Bộ GD-ĐT áp dụng đâu, mà bởi công việc bắt buộc mình phải tiếp cận với một lượng thông tin rất lớn. Ví dụ, người khác muốn tìm hiểu thông tin để chọn trường, tìm lớp học cho con mình thì họ phải tranh thủ làm điều đó khi con họ đã ngủ mà họ thì có thể thức thêm một chút. Còn chúng tôi chẳng cần như thế, bởi chúng tôi có thể dành hết ngày này sang ngày khác tìm hiểu chuyện đó. Hơn nữa, một số bạn đồng nghiệp hoặc bạn bè, người thân quen lại mặc nhiên coi chúng tôi là “chuyên gia”, động việc lại gọi chúng tôi hỏi “ý kiến”. Thế là bộ nhớ của chúng tôi được lục lọi, chủ yếu là lời khuyên của các chuyên gia hoặc các nhà chuyên môn mà chúng tôi từng gặp gỡ tiếp xúc, vì nó quá nhiều nên buộc chúng tôi phải phân tích, xử lý thành thông tin “tinh”. Đôi khi, vì “ban phát” lời khuyên nhiều quá mà chúng tôi cũng tưởng mình là những chuyên gia thật.

3) Báo chí được coi là cơ quan quyền lực thứ tư. Ví dụ, ngay cả trong việc chọn người để phỏng vấn cũng đã ảnh hưởng rất nhiều đến nội dung bài báo. Khi làm về giáo dục, bạn có nhiều cơ hội sử dụng “quyền lực” này của mình không?

NB1: Khi được nghe từ “quyền lực thứ tư” tôi thấy sờ sợ. Tôi đồng ý là “chọn ai để nói điều này” rất quan trọng, đến mức sự thành, bại của bài báo, bản sắc riêng của phóng viên phụ thuộc không ít vào việc “chọn ai” cho mình.
Không phải lúc nào mình cũng đủ trình độ/khả năng/năng lực để sử dụng “quyền lực thứ tư” có hiệu quả đâu. Đôi khi tôi vật vã và bị ám ảnh bởi mình không thực sự hiểu hết mọi ngóc ngách của vấn đề (mà muốn phản ánh, viết bài, nêu vấn đề gì đó thì nguyên tắc “biết 10 viết 1” rất quan trọng). Những lúc như vậy tôi đành phải…thôi không viết nữa chứ làm sao.

NB2: Các tòa soạn thường cũng rất “ba phải”, nên trong nhiều vấn đề họ cũng thường mặc kệ để chuyên gia nào thích nói gì thì nói, vì thế bài sau cãi nhau với bài trước cũng là chuyện không hiếm. Tất nhiên đôi khi chúng tôi cũng phải làm việc trên tinh thần thể hiện quan điểm của tòa soạn. Ở cơ quan cũ, nếu ý kiến tôi bất đồng với ý kiến tòa soạn thì tôi có quyền không làm (và người ta cũng không yêu cầu tôi làm). Ở CQ mới, chuyện này chưa xảy ra nên tôi không rõ thực tế sẽ thế nào. Khi đã làm việc trên tinh thần đưa tin theo quan điểm của tòa soạn, dĩ nhiên phóng viên sẽ tự động tìm đến những nhân vật cùng quan điểm. Nhưng tôi nhận thấy quan điểm của các báo cũng thường vận động chứ không bất di bất dịch. Chẳng hạn như cách đây nhiều năm, mỗi khi đấu tranh bỏ độc quyền SGK thì các báo thường đặt ra mục tiêu để có giá sách rẻ. Gần đây họ chuyển hướng mục tiêu, tức là không cần rẻ nữa (vì đúng là khó mà rẻ hơn được nữa), mà là cần chất lượng. Nói chung có vẻ như vì cái gì cũng không quan trọng, miễn là NXB GD đừng có phải là nơi duy nhất được được xuất bản SGK. (Nói thêm: Đúng là miếng bánh thị trường SGK quá béo bở, cũng phải chia cho các NXB khác chứ NXB GD ôm hết thì quả là bất công, hì hì hì).

Về cá nhân mình, tôi coi trọng sự được việc. Nói chung phỏng vấn ai cũng được, miễn là họ hợp tác với tôi và cho tôi những ý kiến sắc sảo, có chiều sâu, được lòng dư luận (người mua báo) thì càng tốt. Tất nhiên, có những người rất không sẵn lòng hợp tác với báo chí, nhưng vì họ quá được dư luận quan tâm, nên nhiều khi bọn tôi cũng phải tìm mọi cách để tiếp cận. Còn có những người chúng tôi biết phỏng vấn họ thì rất chán, nhưng khổ nỗi họ là quan chức, và ở vị trí đầu mối thông tin của một cơ quan quản lý nhà nước, nên bắt buộc chúng tôi vẫn phải phỏng vấn.

Còn các nhân vật độc lập, tôi thì chưa “kỳ thị” ai, nhưng tôi biết có những đồng nghiệp của mình sau khi thấy một vài nhân vật nào đó “múa may” trên sân khấu giới elite thì tự đưa ra lời nguyền rằng, ông/ bà đừng bao giờ hy vọng được xuất hiện trên báo tôi.

4a) Vấn đề cải cách giáo dục đang rất đuợc quan tâm ở Việt Nam. Có vẻ như một trong những cản trở lớn trong quá khứ là sự cải cách hình thức và thiếu thực chất. Bạn có cảm thấy điều này đang thay đổi?

4b) Ngay cả việc phỏng vấn về giáo dục, nên chăng chúng ta tăng thêm nỗ lực tìm hiểu về cảm nghĩ và trải nghiệm của những thầy cô đang trực tiếp giảng dạy, thay vì những người có thể có bằng cấp cao hơn nhưng thiếu kinh nghiệm thực tế?

NB1: Cải cách giáo dục hiện nay có đang đi vào thực chất hay không, hay vẫn là hình thức. Tôi nghĩ về tổng thể thì vẫn cứ bị “bí bách” ở một chỗ nào đấy. Còn về những thay đổi lẻ tẻ (con người, giải pháp, phương pháp học) thì có thay đổi không chỉ là về hình thức. Nhưng tôi chưa thấy có sự theo đuổi bền bỉ của những/một vài cá nhân có trách nhiệm quản lý giáo dục cho một sự nghiệp giáo dục tiến bộ. Tôi thấy có một số thứ “nhân danh đổi mới”.
Cách đây vài năm, khi làm việc với các cộng sự (các bạn trong ban của tôi đang làm), tôi có nói: Chúng ta cần mở một xu hướng khi tác nghiệp là tiếp cận “từ cơ sở”, “từ thực tế” và các bạn phải ‘moi móc” được nhiều câu chuyện thực tế, nhất là từ phía giáo viên, giảng viên, phụ huynh. Thậm chí, có lúc tôi từng nghĩ mở một tiểu mục nhỏ “Tiếng nói giáo viên” trên báo. Từng là phóng viên và nay làm công tác bếp núc nhiều hơn, tôi hiểu rằng các giáo viên rất ngại nói, ngại chia sẻ, phần vì tâm lý “sợ phiền”, phần nữa là “ghét” báo chí, và không phiền hoặc không ghét nhưng họ bận rộn quá. Tuy vậy, ở một khía cạnh khác, tôi cũng hay nhận được các bài viết, trao đổi và ý kiến của giáo viên. Họ đã đóng góp bao nhiêu nhỉ, tôi chưa thống kê chính xác, nhưng chắc khoảng  10% trong các sản phẩm báo chí mà chúng tôi đang sử dụng. Đó là các bài viết do chính giáo viên thực hiện.
Ngày xưa đi học tôi nhớ được câu “Chi tiết nhỏ tạo nên nhà văn lớn”. Khi đi làm, tôi thấy càng để làm được nhiều việc nhỏ càng khó. Để có nhiều hơn nữa bài viết của giáo viên, để các phóng viên có thể tiếp cận và sử dụng được các phỏng vấn với giáo viên, giảng viên về giáo dục đòi hỏi sự kiên trì, bền bỉ – có lẽ cũng là một tố chất quan trọng của những người làm nghề giáo.
Tôi thì nghĩ là không nên “thay vì”, mà nên có cả hai lựa chọn. Tất nhiên là nên ‘lựa chọn đắt giá’ và cân đối liều lượng. Điều quan trọng là người nói (giáo viên trực tiếp hay những người được cho là thiếu thực tế) có câu chuyện, có lập luận và kiến giải thuyết phục, hướng tới giá trị chung là thúc đẩy sự tiến bộ xã hội.

NB2: Theo tôi, bệnh hình thức là một căn bệnh mãn tính mà GD VN mắc phải, xuất phát từ cách quản lý và điều hành duy ý chí, tính mục tiêu quá cao trong khi điều kiện thực tế không đảm bảo chất lượng sự phát triển. Một lý do nữa khiến những cải cách sa vào hình thức, thiếu thực chất là do sự nóng vội của các nhà chính trị khiến họ can thiệp quá sâu dẫn đến thiếu tôn trọng các nhà chuyên môn, trong khi số lượng nhà chuyên môn có bản lĩnh và quyết liệt theo đuổi đến cùng các quan điểm của mình không nhiều.
Tôi chưa nhận thấy sự thay đổi này một cách rõ ràng trong công cuộc đổi mới căn bản toàn diện mà ngành GD đang triển khai, dù các lý do thì có thể hơi khác với giai đoạn trước. Trong lĩnh vực giáo dục phổ thông, lý do theo tôi là lãnh đạo có thể có nhận thức tốt, nhưng giới làm chuyên môn thì chưa thay đổi về chất lượng so với yêu cầu của thời đại. Không phải là tôi khen lãnh đạo giỏi, mà ý tôi muốn nói sự tiến bộ về nhận thức của lãnh đạo trong đường hướng phát triển giáo dục phổ thông chưa mạnh mẽ, sâu sắc đến mức có thể lan xuống đội ngũ  chuyên môn. Họ hiểu láng máng con đường mà nền giáo dục nước nhà cần đi theo, nhưng họ chưa đủ lý lẽ để thuyết phục cấp dưới ủng hộ, cũng như chưa đủ năng lực lãnh đạo để có các bước chuẩn bị tốt.
Với lĩnh vực giáo dục ĐH, tôi cho rằng điều cản trở nền ĐH thay đổi một cách thực chất là do nó liên quan khá mật thiết tới cách thức tổ chức, điều hành nhà nước. Ví dụ, hiệu trưởng một trường ĐH phải là đảng viên, riêng tiêu chí này cản trở cánh cửa tìm người tài cho công cuộc tìm kiếm hiệu trưởng của các trường ĐH. Tôi hoàn toàn không có ý chê năng lực – trình độ của các nhà khoa học là đảng viên. Nhưng rõ ràng, khi cuộc đua tài chỉ diễn ra giữa các đồng chí đảng viên với nhau thì đỉnh cao của cuộc đua nhiều khả năng sẽ kém xa người thắng cuộc trong một cuộc đua tài mà thành phần mở rộng cho tất cả các trí thức.

(NB2 đề nghị không công khai câu trả lời cho 4b — LTS)

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s