Chính trị địa phương: toà tối cao, bao cao su và phim người lớn.

Đa số chúng ta (và không chỉ người Việt) thích bình luận về những vấn đề chính trị lớn, như bầu cử tổng thống Mỹ. Cũng dễ hiểu, vì khi “chém gió” về những vấn đề (có vẻ) quan trọng, bản thân chúng ta thấy mình quan trọng hơn, cuộc sống bớt tầm thường hơn,  dù thực tế không phải như vậy. Nhưng các vấn đề thật ra ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của ta hay gia đình, và cũng thể hiện rõ hơn sức khoẻ của một nền dân chủ, nhiều khi nằm ở những cuộc đấu chính trị tại địa phương.

Như bang tôi đang ở, cuộc bầu cử tổng thống năm nay không có gì thú vị. Bang này luôn bầu cho ứng cử viên đảng Cộng hoà, với ít nhất 20% áp đảo, nên lá phiếu của tôi cho Trump hay Clinton không có ý nghĩa nhiều. Nhưng trên tờ phiếu có khoảng 20 hạng mục khác. Ví dụ, theo luật của bang, các thẩm phán Toà án tối cao có thể bị mang ra bầu. Thống đốc bang, một kẻ  theo tôi là tăm tối và bảo thủ, tìm cách thay đổi vị trí của nhiều thẩm phán vì họ thường chặn các cố gắng của ông này, như giảm chi tiêu cho các trường học phổ thông.

Đương nhiên, vì là chính trị thì phải ném đá giấu tay, họ đưa ra lí do khác, đó là các quyết định về xử tử tội phạm, để  khuyến khích người dân gạt bỏ các thẩm phán. Ở phía bên kia, một nhóm vận động cũng được nhanh chóng lập ra chống lại nỗ lực này. Cuộc đua diễn ra rất quyết liệt, và cũng tốn đến hơn 1 triệu đô la tiền vận động và quảng cáo. Tôi bỏ phiếu để giữ các thẩm phán, và cuối cùng kết quả là tất cả được giữ lại, dù số phiếu có người chỉ quá bán một chút. Cũng cảm thấy vui vui vì lá phiếu của mình không uổng phí.

Chính trị thực sự và dân chủ luôn đòi hỏi người dân phải chịu khó tìm hiểu thông tin để đi đến quyết định cho mình. Những thông tin này khá phức tạp và không dễ tìm. Phần cuối của bài này xin kể hầu quý vị câu truyện về mục bầu cử số 60 của tiểu bang California. Tôi tình cờ biết được vấn đề này từ FB của một người quen, đang làm GS toán ở một đại học tại Cali. Thật ra rất nhiều trí thức thực sự khá quan tâm đến chính trị địa phương!

Mục 60 đòi hỏi các diễn viên trong phim cấp 3 phải dùng bao cao su khi đóng phim. Nghiêm ngặt hơn, nó cho phép người dân có thể kiện những nhà sản xuất phim nếu quan sát thấy điều này bị vi phạm! Đương nhiên, nếu chỉ có thế thì  hơi vô duyên, nên những người làm kiến nghị này thòng thêm một điều khoản nghe rất nhân văn, là đòi các nhà sản xuất phải trả tiền khám sức khoẻ cho các diễn viên, để bảo vệ sức khoẻ cộng đồng, tránh sự lây lan của các bệnh như HIV. Chưa đủ, kiến nghị 60 còn được đặt một cái tên mỹ miều hợp lòng dân, đó là “Tăng cường an toàn tình dục trong công nghiệp phim người lớn”.

Với đủ thiên thời địa lợi nhân hoà, kiến nghị 60 nhận được tài trợ rất lớn để quảng cáo, với hơn 4.5 triệu đô la. Còn phe phản đối chỉ có hơn 500 nghìn đô.

Thế nhưng, phe phản đối, bao gồm rất nhiều các diễn viên và nhà sản xuất, đưa ra những luận điểm thuyết phục hơn. Đó là kiến nghị này vi phạm tự do trong nghề nghiệp của họ. Rất nhiều những phim cấp 3 là do chính các diễn viên sản xuất, khi bị kiện họ sẽ phải lộ địa chỉ và tên thật, dễ dẫn đến sự lạm dụng. Hiện thời, chế độ khám sức khoẻ tự nguyện đã đủ hiệu quả. Ngoài ra, việc kiểm soát nghị định này sẽ chỉ làm cồng kềnh thêm bộ máy nhà nước, và tạo điều kiện để các nhân viên công quyền được xem phim con heo miễn phí trong giờ làm việc!

Ông bạn GS toán của tôi đưa ra một luận điểm khá thuyết phục phản đối  kiến nghị 60. Đó là thật ra phần lớn lợi nhuận trong ngành công nghiệp này tương đối thấp, và đang bị đe doạ bởi nạn sao chép trên mạng. Việc thắt chặt quản lý chỉ khiến cho giới sản xuất rút vào hoạt động bí mật. Và khi đã bí mật, thì các diễn viên sẽ có điều kiện làm việc và lương bổng tồi hơn, chất lượng phim cũng giảm. Từ đó sẽ bắt đầu một vòng xoáy có thể khai tử cả một nền công nghiệp. Mà đương nhiên như thế sẽ làm nhiều người không có việc làm, thu nhập thuế của bang giảm,  nhiều thanh niên không có phim hay mà xem, tăng bất ổn xã hội!

Nói phải thì củ cải cũng nghe. Phe phản đối tuy ít tiền, nhưng nhận được sự ủng hộ chính thức của cả đảng Cộng hoà lẫn Dân chủ, cũng tiến hành một chiến dịch quảng bá khá quy mô và chuyên nghiệp (vì họ có sẵn điều kiện làm phim!). Cuối cùng, họ đã thắng lợi với 54% (4.5 triệu phiếu bầu trên tổng số 8.4 triệu) số phiếu. Để so sánh, ông Trump chỉ giành được 3 triệu phiếu ở bang này. Giống như nhiều kết quả chính trị khác, nó lập tức được coi là “thành tựu chính trị vĩ đại nhất của ngành công nghiệp phim người lớn”, là một “chiến thắng của khoa học trên định kiến, của sự thật trên sự sợ hãi“!

Tóm lại, sau hơn 5 triệu đô la và rất nhiều công sức của cả hai bên, ngành công nghiệp phim tươi mát lại được tiếp tục cuộc sống bình lặng của mình.

Dân chủ, nhiều khi chỉ đơn giản là như vậy!

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Dạy Toán cho con, I

Thi thoảng cũng có vài bà mẹ trẻ hỏi tôi kinh nghiệm dạy toán cho con. Yêu cầu của họ khá giản dị, kiểu: “làm thế nào để con mình giỏi và say mê toán mà lại vui vẻ thoải mái, sau này vừa thành đạt vừa hạnh phúc?” 🙂
Tôi chỉ muốn bảo: “Đầu tiên bạn nên cưới một nhà toán học thành đạt, mạnh khoẻ và biết yêu thương gia đình. Sau đó, và quan trọng nhất, hãy cầu nguyện mỗi ngày”.
Nghĩ trong đầu vậy chứ tôi thường cố gắng trả lời nghiêm túc, vì biết là mối quan tâm của các bà mẹ ấy là thật sự và rất nghiêm túc. Dạo này tần suất câu hỏi có vẻ tăng lên, chắc là vì tầm quan trọng của giáo dục khoa học bắt đầu được cảm nhận rõ rệt hơn, nên tôi chép lại các câu trả lời ở đây.
Thật ra dạy con giỏi toán thì không biết, chứ dạy các cháu bớt sợ toán chắc không quá khó. Sau đây là vài kinh nghiệm, cả từ bản thân và lượm lặt của người quen. Phần lớn chúng chỉ là “common sense”, và có thể áp dụng cho các môn khác.
1) Hãy bắt đầu sớm. Bạn có thể trò chuyện với con về các khái niệm cơ bản từ sớm, như đếm cùng con, hỏi chúng về số lượng của các đồ vật xung quanh, so sánh xem đĩa nào có nhiều kẹo hơn, hình này có mấy cạnh, mấy đỉnh. Mỗi ngày chỉ cần một vài đối thoại như vậy, từ lúc chúng 2-3 tuổi và bắt đầu biết về số lượng.
2) Học mà chơi. Hãy tự tạo ra các hoạt động vui để bổ sung cho bài học ở trường và làm chúng đỡ khô khan. Ví dụ khi học phép cộng, bạn có thể làm các que bằng lego có độ dài 1,2,3,4,5, rồi chơi trò chọn 2 que có tổng bằng 7. Vừa giúp chúng nhớ về phép cộng, vừa giới thiệu cho chúng phép trừ. Có thể thay đổi hình thức chơi, như mỗi người đến lượt chọn 1 que, hay cho phép dùng nhiều hơn 2 que miễn là tổng vẫn bằng 7.  Hay bạn có thể đàm luận với chúng xem số nào là số lớn nhất.  Đây là một cách hay để giới thiệu về logic, khái niệm vô hạn, v.v.
3) Yêu thương và kiên nhẫn. Đừng nổi nóng nếu con bạn mãi vẫn chưa nhận ra là 2+2 bằng 4. Toán học bao gồm những khái niệm rất khó (ngay cả những thứ tưởng chừng đơn giản như phép cộng) mà loài người mất hàng chục ngàn năm để phát triển, không dễ để tiếp thu nhất là với một bộ óc non nớt của trẻ thơ. Nhiều khả năng hồi bé bạn (và tôi) ngu hơn chúng bây giờ. Nếu sau vài lần mà đứa trẻ vẫn mắc lỗi, hãy chuyển đề tài và quay lại chủ đề đó sau. Khi con làm đúng, hãy cổ vũ nhiệt tình. Trẻ con luôn khát khao sự chấp nhận của bố mẹ, nếu chúng thấy mặt bạn bừng sáng khi làm đúng phép cộng, chúng sẽ tự động liên hệ học toán với hạnh phúc.
4)  Không cần dạy trước chương trình ở trường. Làm thế bọn trẻ sẽ chán học với thầy cô. Hãy dạy chúng những khái niệm bổ trợ, các trò chơi thay vì “bám sát” chương trình học. Hãy nghĩ đến mục tiêu dài hạn. Dạy toán cho con là dạy cách suy nghĩ, cách giải quyết vấn đề một cách logic, cách kết nối và sáng tạo kiến thức, chứ không để lấy điểm. Thật ra thì khi chúng hiểu bản chất vấn đề và có sự thích thú, kết quả sẽ tự động cải thiện.
5) Tự học thêm. Có rất nhiều nguồn từ internet, sách vở để bạn tìm hiểu về giáo dục, về vẻ đẹp của toán học và khoa học. Toán học là một phần rất đặc sắc của văn hoá và lịch sử nhân loại, không khó để bạn rung động trước nó (mà không cần phải lấy  một trí thức). Nhất là nếu bạn biết ngoại ngữ. Khi bản thân bạn cảm nhận được những vẻ đẹp của tri thức nói chung và toán học nói riêng, bạn sẽ dạy con thuyết phục hơn. Nó cũng có lợi hơn cho điều 4.

Con trai của Saul

(trước thềm Oscar 2016)

Khoa học hiện đại có thể đo được những tín hiệu nhỏ nhất từ những góc tối sâu thẳm của vũ trụ, nhưng chúng ta còn rất mù mờ về những góc tối trong tâm hồn con người. Đó là cảm giác của tôi về “Con trai của Saul” (“Son of Saul”, Hungary), một bộ phim đang rất được chú ý trong cuộc đua tranh giải Oscar cho phim nước ngoài hay nhất.

Chủ đề thảm họa Holocaust hoàn toàn không phải là mới, nhưng bộ phim mô tả một góc khuất rất ít khi được khai thác trong văn học và điện ảnh, vì nó đặt ra những câu hỏi ảm đạm không dễ chịu chút nào với người xem. Đó là những Sondercommandos (“đội đặc biệt”) trong các trại diệt chủng của phát xít Đức. Một tên gọi khá tầm thường, nhưng những người đam mê lịch sử chắc sẽ không lạ, vì những tội ác ghê tởm nhất thường  được che dấu dưới những cái tên  nhợt nhạt và mơ hồ.

Được lựa chọn từ các tù nhân, họ chính  là những người đã trực tiếp thực hiện phần lớn các công đoạn của bộ máy giết người chuyên nghiệp nhất trong lịch sử. Họ đưa các tù nhân khác (phần lớn là phụ nữ, người già và trẻ con) từ tàu hỏa  vào thẳng phòng hơi ngạt (được ngụy tranh như phòng tắm), giữ thái độ bình thản để đám đông không hoảng sợ, dỗ dành các em bé cởi đồ, và khóa cửa phòng. Sau khi tất cả đã chết, họ  chở các xác chết đi chôn hoặc đốt trong lò thiêu. Có khi họ nhận ra chính người thân của mình trong đống xác, và phim Con trai của Saul được phát triển từ một chi tiết như vậy.

Chỉ có một công đoạn duy nhất họ không phải làm, đó là đổ hơi độc từ trên nóc nhà xuống. Vì tính chất đặc biệt trong công việc của họ, những người này cũng được đối xử đặc biệt, ở một khu riêng và được ăn uống tốt hơn. Dù vậy, họ chỉ được sống trung bình khoảng 3 tháng, vì đã biết quá nhiều bí mật. Khi đội mới được chọn, nhiệm vụ đầu tiên của họ thường là chôn những thành viên của đội trước, vừa mới bị thủ tiêu. Cũng có một vài trường hợp nổi loạn, nhưng phần lớn nhẫn nại thực hiện nhiệm vụ của mình cho đến lúc chết.

Có thể hiểu vì sao số phận của những con người này lại gây nhiều tranh cãi đến vậy. Khi chiến tranh mới kết thúc, họ bị coi như những kẻ phản bội đáng nguyền rủa. Chỉ để được sống thêm vài tháng, họ đã góp phần đẩy nhanh cái chết của cả triệu đồng bào của mình. (Trong vòng chưa đến 1 năm, gần 1 triệu người Do thái ở Hungary đã chết trong các trại diệt chủng). Và cuộc tranh cãi về chủ đề này rất nhậy cảm, vì nó có thể mở rộng ra  về thái độ “ngoan ngoãn” đi vào chỗ chết của những người Do thái châu Âu, về câu hỏi có phải tính tổ chức của họ thực ra đã góp phần làm cuộc diệt chủng trở nên dễ dàng hơn?

Nhưng khi chiến tranh đã lùi xa, cái nhìn về họ cũng trở nên đa chiều hơn. Cái nguy hiểm của các chế độ toàn trị là biến những người hết sức bình thường thành tòng phạm trong những tội ác vô nhân tính. Và chúng ta có quyền gì phán xét họ, khi chưa phải trải qua địa ngục trần gian mà họ phải nếm trải? Những tài liệu được tìm thấy cũng đưa ra ánh sáng những nỗ lực tuyệt vọng của nhiều thành viên  Sondercommandos, dù chỉ để cứu rỗi linh hồn của mình: ghi lại nhật ký, bí mật chụp ảnh công cuộc thảm sát, hay thậm chí nổi loạn.

Một chi tiết khá tinh tế trong “Con trai của Saul”, đó là chúng ta thật ra không thể biết chắc có phải cái xác mà Saul tìm được trong phòng hơi ngạt là con trai của anh hay không? Hay những nỗ lực để cho cậu bé đó được hưởng một tang lễ đúng phong tục, chỉ là một hành động để anh có thể cứu vớt linh hồn mình? Các nhà làm phim đã để mở chi tiết này.

Một điều khá thú vị về bộ phim, đó là mặc dù chủ đề cực kỳ gai góc, nhưng những nhân vật chủ chốt lại gần như không có kinh nghiệm gì. Đây là phim đầu tay của đạo diễn László Nemes. Còn nam diễn viên chính, Géza Röhrig, thậm chí còn không phải là diễn viên chuyên nghiệp mà chỉ là nhà thơ! Đây thật ra không phải là điều lạ. Ba bộ phim gần đây của Đông Âu tham gia Oscar đều có hoàn cảnh tương tự: chủ đề rất khó, nhưng được thực hiện bởi những “tay mơ”. “The live of others”, về chế độ Đông Đức và sự tự do của người nghệ sĩ, cũng được thực hiện bởi một đạo diễn đầu tay. Và “Ida”, một phim rất sâu sắc cũng về những vết thương chiến tranh và vai trò của tôn giáo ở Ba Lan, đã trao vai diễn chính cho một cô gái không chuyên! Cả hai phim đó đều đã đoạt giải Oscar cho phim nước ngoài hay nhất.

Dù biết rằng làm phim để “lấy giải” cũng có những thủ thuật riêng, nhưng không thể phủ nhận sự tài hoa và sâu sắc trong những sản phẩm này. Tại sao những con người mới vào nghề lại có thể làm những tác phẩm xuất sắc như vậy, với kinh phí rất nhỏ so với phim Holywood (hay thậm chí còn ít hơn so với những bộ phim Việt Nam đình đám)? Vì lịch sử của họ cay đắng và đa dạng? Hay vì họ được thẩm thấu lịch sử tốt hơn, được  tự do (và chịu khó) tìm hiểu và trăn trở về lịch sử hơn? Tôi không có tâm hồn nhậy cảm và phức tạp của một nghệ sĩ, nên chỉ nhìn thấy câu trả lời  rất rõ ràng, đó là lí do thứ hai.

 

 

 

 

 

 

Sóng hấp dẫn, vài chuyện hậu trường

Sau đây là vài thông tin thú vị, lượm lặt từ báo chí và blogs của những người tôi theo dõi trong giới khoa học về một trong những thành tựu chấn động nhất của vật lý trong thời gian gần đây.

  1. Một chút giới thiệu:  Khi vũ trụ còn hỗn mang, hai lỗ đen hòa vào nhau, tạo nên một năng lượng khổng lồ (hơn tổng năng lượng của tất cả các vì sao hiện thời). Tất nhiên, một năng lượng lớn như vậy chỉ tồn tại trong một quãng “thời gian” rất nhỏ, bằng 1 phần 5 giây. Tại sao thời gian lại để trong ngoặc kép? Vì nó chỉ là tương  đối, theo lý thuyết của Einstein. Cũng theo thuyết tương đối thì năng lượng này sẽ làm cong cả không gian, nghĩa là cả hệ tọa độ mà chúng ta đang sống.
  2. Einstein và sóng hấp dẫn: Đương nhiên Einstein không có các công cụ hiện đại (sẽ nói thêm dưới đây) để kiểm tra giả thuyết của mình. Ông tìm ra chúng thuần túy bằng các phương trình toán học. Điều thú vị là vào năm 1936, ông đã nghi ngờ chính giả thuyết của mình và tìm cách “chứng minh” sóng hấp dẫn không tồn tại. Bài báo này của ông và một đồng nghiệp được gửi lên tạp chí vật lý Physical Review, và đã bị một người phản biện chỉ trích (khi đó các tạp chí khoa học Mỹ mới bắt đầu có hệ thống phản biện độc lập, với vị thế của mình Einstein đã quen với việc được đăng báo mà không có phản biện, dù ở Đức hay Mỹ). Vì tự ái, ông đã rút bài này và từ đó không bao giờ thèm gửi lên tạp chí này nữa! Người phản biện đã tìm cách tiếp cận riêng  Einstein một cách nhẹ nhàng hơn, và ông đã kịp nhận ra sai lầm của mình trước khi đăng lại bài báo ở một tạp chí khác.
  3. Từ ý tưởng đến thực tế: Vì cách chúng ta quá xa về không-thời gian (1.3 tỷ năm ánh sáng), nên khi dư chấn của sự kiện này đến với trái đất, nó chỉ có tác động cực kỳ nhỏ bé. Để “đo” được nó, người ta phải xây dựng những tấm gương bằng tia laser giữa các điểm khác nhau trên trái đất. Gọi là gương vì trước tiên ta phải khuếch đại tác động của sóng thì mới có hi vọng đo được chúng. Dù vậy theo tính toán lý thuyết, công cụ đo phải phát hiện được sự khác biệt bằng một phần tỷ tỷ của một milimet. Đây là một lí do dù ý tưởng này đã được giáo sư Kip Thorn và đồng nghiệp viết vào sách giáo khoa từ những nằm 70, đến bây giờ giới khoa học mới có thể hiện thực hóa giấc mơ của họ.
  4. Chiến thắng của hệ thống: Thành tựu này không đơn thuần là thành tựu của một vài giáo sư (vì ý tưởng thực ra đã có rất lâu), mà là thành tựu của một nền khoa học. Ngoài tiền tài trợ, khả năng tổ chức và quản lý cũng rất quan trọng. Để xây dựng được những bộ máy phức tạp như vậy, người ta cần sự tham gia của những chuyên gia  hàng đầu ở các lĩnh vực rất khác nhau, từ tính toán đến thực nghiệm. Chưa kể đến sự tham gia của hàng trăm cộng tác viên và nhân viên kỹ thuật. Muốn có được những nhóm nghiên cứu lớn như vậy cần vượt qua rất nhiều trở ngại về tổ chức, ngay cả ở nơi có môi trường cởi mở như Mỹ. Ngoài ra họ làm việc quảng bá khoa học rất hiệu quả và chuyên nghiệp, chẳng hạn như khuyến khích  học sinh và giáo viên cấp 3 trực tiếp đến quan sát và trau dồi kiến thức. Theo tôi đây là một lý do chủ yếu nước Mỹ có lợi thế trong những nghiên cứu như thế này, vì rất nhiều nhà khoa học của họ làm quản lý cũng rất giỏi, do phải cạnh tranh/được tôi luyện từ khi còn trẻ về mặt này.
  5. Văn hóa khoa học: Những phát kiến khoa học lớn, hay  cả những sự kiện nhỏ hơn trong chuyên ngành hẹp, như gần đây là kết quả  về độ phức tạp của xác định đẳng cấu đồ thị, được đánh giá là chấn động trong lý thuyết khoa học máy tính, thường được đón nhận rất hồ hởi trong giới khoa học nước ngoài. Họ viết blog, dự đoán từ trước, giải thích và thảo luận về chúng còn hăng hái hơn người Việt về đại hội Đảng, ngay cả nếu như chuyên ngành của mình không trực tiếp liên quan.  Không nói đến vấn đề to tát như nâng cao dân trí, sự nhiệt tình này đã truyền lửa cho học trò, đồng nghiệp và con cái họ, góp phần tạo nên một “văn hóa khoa học”  rất phong phú và có truyền thống.
  6. Văn hóa khoa học Việt: Đây cũng là một lĩnh vực mà theo quan sát của tôi, giới khoa học người Việt (trong đó có bản thân tôi) vẫn còn khá yếu. Phần lớn ít quan tâm đến những sự kiện ngoài ngành của mình, và còn ít hơn nữa việc cố gắng “truyền lửa” về chúng  đến cộng đồng, ngay cả trong môi trường làm việc ở nước ngoài. Vì thế nên khi phải làm điều này thì ít người viết  hay và dễ hiểu cho người đọc. Mỗi lần thấy các đồng nghiệp phương Tây bàn luận sôi nổi về những sự kiện khoa học thuần túy, cũng không khỏi cảm thấy một nỗi buồn hơi khó tả. Nhất là khi ngay cả những sinh viên trẻ của họ đã viết blog rất hay về nhiều chủ đề. Khoảng cách văn hóa này giữa ta với họ hiện nay còn quá lớn, vì vậy lời khuyên của tôi với các bạn trẻ là chịu khó học tiếng Anh để theo dõi những blog rất hay này, thay vào việc chờ đợi các tài liệu tiếng Việt.  Vì đằng nào nếu đam mê khoa học các bạn cũng phải học tiếng Anh!

Tình yêu và Tổ quốc

(Viết 1 ngày sau lễ tình nhân 2016)

Trong một status trên FB gần đây về việc nấu ăn cho vợ con, tôi có đề cập đến quan điểm cá nhân rằng mọi tình cảm lâu dài cần được xây dựng trên sự công bằng. Theo tôi, điều này không chỉ đúng đối với bạn bè hay vợ chồng, mà cả cho những quan hệ thiêng liêng khác, như với cha mẹ và Tổ quốc.

Ngay cả giữa cha mẹ và con cái, tình cảm sẽ mai một nếu như không được chăm sóc từ cả hai phía. Đặc biệt là nếu có sự lạm dụng từ một bên, như việc con cái sử dụng cha mẹ như “ôsin cao cấp”, hay cha mẹ can thiệp thô bạo vào cuộc sống riêng tư của con mình, hoặc thiên vị đứa này hơn đứa kia. Có lẽ đây cũng là một vấn đề muôn thuở của xã hội, và mỗi chúng ta dù ít dù nhiều cũng vừa là chủ mưu vừa là nạn nhân của những sự lạm dụng này.

Tuy nhiên bài viết này muốn tập trung vào một mối quan hệ khác cũng rất thiêng liêng, quan hệ với Tổ quốc. Chính sự thiêng liêng đó đã khiến nó thường xuyên bị lạm dụng, để bán hàng, để giành quyền lực, và để gây chiến tranh. Chỉ trong khoảng 100 năm gần đây, rất nhiều những tội ác ghê tởm và phi nhân tính nhất trong lịch sử đều được châm ngòi từ tình yêu Tổ quốc.

Thật ra thì chủ nghĩa quốc gia (và khái niệm đi kèm, Tổ quốc) chỉ mới được giới chính trị Tây phương hoàn thiện trong thời gian vài trăm năm trước, để dễ kết hợp các vương quốc phong kiến lỏng lẻo của châu Âu. Cùng với sự phát triển của công nghệ in ấn, và hệ quả của nó, sự tuyên truyền cho đại chúng trở nên dễ dàng, chủ nghĩa này đã nhanh chóng phát triển. Với chế độ thực dân, nó đã lan tới các quốc gia thưộc địa, vốn trước đó cũng chỉ có những chế độ chính trị khá sơ khai. Trớ trêu thay, nó đã góp phần làm sụp đổ chế độ thuộc địa, bằng những học trò xuất sắc ở những quốc gia chậm tiến này. Cũng trớ trêu là phần lớn những người đó thường đã nhanh chóng áp dụng vũ khí tinh thần hiện đại này để xây dựng nên những vương quốc mới cho bản thân và các thuộc hạ.

Khi đã phát hiện ra công cụ chính trị hiệu quả như vậy, rất ít các lãnh đạo tự nguyện từ bỏ nó. Cũng có những dân tộc may mắn khi lòng yêu nước được dùng đúng chỗ để phát triển đất nước. Nhưng trong phần lớn trường hợp, chủ nghĩa quốc gia, và lòng yêu nước, tiếp tục bị lạm dụng với những hệ lụy bi thảm như đã đề cập ở trên.

Vì vậy, có lẽ bài học của lịch sử là, nếu như xung quanh bạn đột nhiên vang lên những lời kêu gọi yêu nước, thì việc đầu tiên bạn nên làm là đi vào thư viện và ngồi bình tĩnh đọc vài quyển sách về những sự kiện tương tự. Và cũng có lẽ vì lí do này mà các chế độ tàn bạo nhất thường không bắt đầu thời kỳ cai trị của họ bằng việc giết người, mà bằng việc đốt sách.

Bức ảnh nổi tiếng dưới đây mô tả sự kiện đốt sách dưới sự kích động của đảng Quốc xã (viết tắt của quốc gia xã hội) ở Đức, vào năm 1933. Phần lớn những người tham gia là các sinh viên đại học, bị kích động về viễn cảnh huy hoàng của dân tộc, một tương lai với văn hóa và xã hội “thuần Đức”, không bị vẩn đục bởi những yếu tố ngoại lai hay suy đồi.

800px-bundesarchiv_bild_102-145972c_berlin2c_opernplatz2c_bc3bccherverbrennung

 

Cùng với các mục tiêu hiển nhiên (sách về chủ nghĩa cộng sản, về tính dục học, tác giả nước ngoài) như Marx, Freud,  Hemmingway, Hugo, có rất nhiều tác giả bị đốt vì  tác phẩm của họ đã dám phản ánh sự thật về chiến tranh và chính trị. Như Erich Remarque, tác giả của “Mặt trận phía Tây yên tĩnh”, một cuốn sách bị coi là phản chiến. Có nhiều sách bị đốt vì tác giả là người Do thái, như sách của Stefan Zweig, một tác giả Áo rất nổi tiếng thời đó. Những người Việt thế hệ tôi chắc còn nhớ truyện ngắn  lãng mạn đến đau đớn của ông, “Thư của người đàn bà không quen”, về một mối tình âm thầm và tuyệt vọng của một thiếu nữ trẻ ngây thơ với một nhà văn tầm cỡ vừa vừa. Hay như sách của Heinrich Heine, nhà thơ trữ tình nổi tiếng, cũng là người Do thái.

Những thanh niên đốt sách vào năm 1933, trong vòng 10 năm sau đã hăng hái tham gia vào một bộ máy chiến tranh khổng lồ. Và họ đã không ngần ngại đẩy hàng triệu người Do thái cùng các chủng tộc khác vào lò thiêu, để tạo ra “không gian sống” đầy đủ hơn cho dân tộc Đức. (Những hình ảnh quay trong các trại tập trung Đức ngay sau khi chiến tranh kết thúc đã được dựng thành một bộ phim tài liệu với sự tham gia của đạo diễn nổi tiếng A.Hitchcock. Nhưng cho đến gần đây nó bị giấu kín, một phần vì những hình ảnh quá dã man, một phần vì lí do chính trị).

Và đuơng nhiên cuối cùng thì những hành động điên rồ này đã không chỉ hủy diệt những thanh niên ấy và nạn nhân trực tiếp của họ, mà còn làm tan nát chính đất nước mà họ yêu quí: sau thế chiến 2, nước Đức vĩnh viễn mất hoàn toàn vùng Đông Phổ trù phú, bằng 10% diện tích cả nước,  bị chia cắt làm đôi, hàng triệu dân thường thiệt mạng, một số lượng rất lớn phụ nữ bị hãm hiếp bởi Hồng quân (vết nhơ lịch sử này cũng bị giấu nhẹm rất lâu, vì cả kẻ gây tội lẫn nạn nhân đều có quá nhiều lí do để quên chúng).

Với sự nhậy cảm thường có ở những người lãng mạn thật sự, Heinrich Heine đã tiên đoán chính xác số phận bi thảm của những người đồng chủng tộc với ông. Trong một vở kịch viết vào năm 1820, cả trăm năm trước khi những tác phẩm của ông bị quăng vào lửa, ông viết

“Những kẻ hôm nay đốt sách, cuối cùng sẽ đốt con người”

Có lẽ cần thêm, và chúng sẽ đốt cả Tổ quốc của chúng.

 

 

 

 

 

Tản mạn về nghề giáo sư

  1. Ở Mỹ, giáo sư là một nghề. Những người làm nghề này ra đường thường nói giản dị: “Tôi dạy/làm việc ở trường X, viện Y”. Rất hiếm khi nhắc đến chữ “giáo sư”. Có một lần đã lâu ở nhà người quen tôi ngồi uống rượu cạnh một ông béo béo ăn mặc rất bình dân, giống mình. Hỏi ông ấy làm gì thì được trả lời “Tôi dạy ở Boston”. Cả hội ngồi gật gù chẳng nói gì thêm. Về nhà tra tên mới biết là có giải Fields năm 1998. Chuyện rất bình thường ở huyện, hê hê.

2. Giống như mọi nghề, giá trị của nghề giáo sư cũng có tiêu chuẩn khá rõ ràng. Đối với đồng nghiệp, đó là chất lượng và số lượng của các công trình nghiên cứu gần đây, là uy tín trong và ngoài nước, là chất lượng giảng dạy và thành công của học trò, và những đóng góp cho cộng đồng như tổ chức hội thảo, phản biện khoa học. Dân khoa học soi nhau rất kỹ, vì tò mò và thói quen tìm đến gốc vấn đề đã thành bản chất. Cô sinh viên mắt nai đó có thể nghe như nuốt từng lời của bạn trong buổi tiệc, nhưng về đến phòng là cô ấy sẽ google ngay xem bạn gần đây nghiên cứu được gì, được mời đi nói chuyện ở đâu, sinh viên bình luận thế nào về bạn. Muốn lừa con nhà người ta thời buổi này đâu có dễ, nên phần lớn phải khiêm tốn! Mà có lừa ai được, thì cũng rất khó lừa bản thân mình.

3. Đối với vợ, chất lượng của giáo sư lại phụ thuộc vào mức lương và số lượng bỉm các giáo sư thay cho con hàng tháng. Còn đối với bản thân, đó là  thỏa mãn được những tiêu chí trên, và  có niềm vui mỗi ngày trong nghiên cứu giảng dạy.  Được tự do rất đáng kể về mặt tinh thần, được hàng ngày  khám phá những kiến thức mới (dù chỉ là kiến thức khá viển vông), được thường xuyên tiếp xúc với những người thông minh và khát khao hiểu biết,  đó thực sự là đặc ân lớn nhất xã hội dành cho nghề này.

Nếu như có được những điều trên thì ra ngoài đường có người gọi mình là giáo sư (thật lòng hay mỉa mai), cũng chỉ cảm thấy vui. Có tình cờ ngồi cùng phòng làm việc hay uống rượu với người được giải Fields hay Nobel thì cũng cứ nhìn thẳng vào mắt người ta mà nói chuyện. Còn nếu không thì chẳng có nỗ lực đánh bóng cá nhân nào che lấp được sự thiếu tự tin trong mắt bạn.

4. Giáo sư cũng có chút nghĩa vụ đối với xã hội. Vì nói cho công bằng,  xã hội nào (trừ một vài trường hợp man rợ đặc biệt như Khmer đỏ hay Cách mạng văn hóa) cũng dành cho nghề này sự trân trọng tương đối. Ngay ở Mỹ là đất nước rất thực tế, nhưng những người này vẫn được lắng nghe và kính nể nhất định, từ các buổi thịt nướng bình dân đến những thảo luận quan trọng của đất nước. Nhiều nghề như chính khách, thương gia,  luật sư, cảnh sát đều có thể bị chế giễu khá cay độc, nhưng ít ai đụng đến các giáo sư.

Nghĩa vụ với xã hội ở đây đơn giản chỉ là  cung cấp kiến thức trong  chuyên môn của mình đến với quần chúng. Phải chính xác và trung thực trong phạm vi hiểu biết của mình (đương nhiên hiểu biết ấy có thể sai hoặc sẽ sai trong tương lai). Nhưng quan trọng  là phải trung thực. Nói chuyện vĩ mô ở đây không cần thiết, tôi chỉ có một ví dụ cụ thể rất nhỏ nhoi. Cách đây vài tháng tôi được đề nghị quảng bá cho một sự kiện giáo dục khoa học công nghệ (STEM) cho trẻ em. Để nhờ các em sinh viên trong trường tham gia cho xôm một chút, tôi phải giải thích kỹ cho các em đây là sự kiện thuần túy giáo dục. Phải đề nghị các bạn tổ chức gửi cho tấm biển cổ động không có cờ đỏ sao vàng. Khi viết lên FB để ủng hộ, tôi phải nói rõ là mình không có liên quan trực tiếp hay hưởng lợi gì từ các hoạt động ở Việt Nam. Những điều nghe hơi ngớ ngẩn, nhưng là bắt buộc tối thiểu đối với người trí thức trong các xã hội kém dân chủ như Mỹ!

5. Tôi ủng hộ việc chuyển quyền phong giáo sư về cho đại học. Con người thường trở nên nhát và ma lanh hơn khi có liên quan đến quyền lợi. Vấn đề là giao cho ai kiểm soát quyền lợi ấy, nhà nước hay trường đại học? Ở Mỹ các trường có quyền lớn, nên nhiều giáo sư ở đây có thể rất hăng hái bàn luận chuyện quốc gia đại sự nhưng lại co vòi làm ngơ trước những bất công ngay gần (có nhiều chuyện lúc nào có thời gian sẽ tường thuật). Nhưng sai lầm trong chính sách nhà nước thường có hậu quả lớn hơn rất nhiều so với sai lầm của một trường riêng lẻ. Có lẽ vì thế, hãy giao quyền cho trường, để trí thức Việt có cơ hội trung thực hơn với nhà nước.

Phỏng vấn các nhà báo về giáo dục!

Lời tòa soạn: Thời gian vừa qua có một số nhà báo có nhã ý đề nghị tôi hợp tác, nhất là các chủ đề liên quan đến giáo dục. Tôi tạm từ chối vì nhiều lí do. Thứ nhất vì tôi không/chưa phải là chuyên gia. Thứ hai là  người (đàn ông) nào cũng nên luyện tập kiềm chế sự sung sướng nhất thời, một kỹ năng sống hữu ích. Nhưng quan trọng nhất là tôi thực sự nghĩ, những kiến thức của một trí thức xa lông như mình không thể trung thực và sâu sắc được bằng kiến thức của chính các bạn, những “phóng viên chiến trường” trong một lĩnh vực cực kỳ phức tạp như giáo dục Việt Nam. Vì thế tôi đã đề nghị được phỏng vấn ngược họ để đưa lên blog của mình.

Rất may là đề nghị này được hai  nhà báo (trong số những người tôi tiếp cận) đồng ý, một báo mạng và một báo in, đều là những báo rất quen thuộc. Đúng như cảm nghĩ ban đầu, câu trả lời của các bạn rất chân thành và bổ ích, đã giúp tôi hiểu thêm nhiều điều. Dù vì là lần đầu nên tôi cố gắng đưa ra những câu hỏi khá an toàn, nhưng các bạn trả lời “thật thà” đến mức chúng tôi quyết định sẽ không đăng tên các bạn, vì hơi ngại rằng sẽ ảnh hưởng đến công việc chuyên môn của họ. Thích nhất là sau bài phỏng vấn được các nhà báo khen rằng “Bạn cũng có khiếu làm nhà báo!”. Đúng là biết kìm sự sung sướng nhỏ sẽ có sự thăng hoa lớn!

Dưới đây là toàn bộ bài phỏng vấn. (NB1 là từ báo mạng, và NB2 là từ báo in. Một điều thú vị là NB1 nhắc đến NB2 trong bài trả lời của mình, dù lúc đó bạn ấy chưa biết mình sẽ phỏng vấn ai!)

1) Xin cảm ơn bạn đã đồng ý trả lời câu hỏi của mình. Để bắt đầu, là phóng viên về giáo dục có những đặc thù gì so với những lĩnh vực khác? Bạn có thể chia sẻ một kỷ niệm đáng nhớ khi tác nghiệp?

NB1: Phóng viên giáo dục nom lành hơn phóng viên nội chính (bám mảng pháp luật, chính trị), chắc chắn là ít người đi ô tô đi làm hơn so với phóng viên kinh tế, ít nhộn nhịp và xinh tươi hơn phóng viên giải trí. Nhưng hãy thử dự một buổi họp báo, thì độ “gấu” trong việc đeo bám sự kiện của họ cũng không “lành” đâu nhé. Cứ xem NB2 quyết liệt như thế nào khi chất vấn cho đến cùng Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển (và những lãnh đạo khác) về một vấn đề gì đó thì sẽ rõ, dù ngoài đời, phóng viên và quan chức đôi khi trêu đùa nhau rất vui. Kỷ niệm đáng nhớ kể ra thì xấu hổ chết, nhưng tôi nghĩ nhân vật của mình là người đại lượng. Thôi, để lúc nào tiện thì tôi sẽ kể vậy.

NB2: Đặc thù? Khó nhỉ, vì dường như chẳng có nét đặc thù nào. Có chăng là hình như phóng viên GD hơi nhiều nữ? (Đặc điểm này có thể do tòa soạn nào cũng ưu tiên lực lượng tinh nhuệ nhất của họ – tức là các bạn nam – cho các mảng ngành đòi hỏi sự xông pha quyết liệt hơn cũng như có sức khỏe tốt hơn). Bất kỳ phóng viên nào được tòa soạn phân công theo dõi mảng giáo dục cũng đều có thể trở thành phóng viên giáo dục, bất kể họ có chút hiểu biết nào về lĩnh vực giáo dục hay không! Thật ra nghề báo là thế, mỗi nhà báo đều trưởng thành nhờ quá trình tự học, chứ trường ĐH không hề giúp chút nào kiến thức lĩnh vực mà họ sẽ được phân công theo dõi sau này. Khởi đầu chỉ cần đưa tin. Vì thế bài học quan trọng với mỗi nhà báo khi bắt đầu vào nghề không phải là kiến thức về lĩnh vực mình theo dõi mà là cách tạo lập các mối quan hệ với các nguồn tin.

Kỷ niệm đáng nhớ: Rất nhiều, ngồn ngộn ấy. Nhưng để gọi tên một kỷ niệm mà nó hàm chứa điều gì đó có ý nghĩa với cuộc đời một nhà báo giáo dục lại là điều rất khó. Thôi, thì tạm nhắc tới kỷ niệm này. Đó là mùa hè năm 2006, lúc đó ông Nguyễn Thiện Nhân vừa được bổ nhiệm chức Bộ trưởng Bộ GD-ĐT. Trước đó, cuối tháng 5 đầu tháng 6 có sự kiện thi tốt nghiệp THPT, thầy Đỗ Việt Khoa đã khiến cả nước rúng động vì những tố giác về tiêu cực trong thi cử. Khi lên Bộ trưởng, ông Nguyễn Thiện Nhân đã có cuộc làm việc ở UBND tỉnh Hà Tây, sau đó từ Hà Đông về nhà thầy Khoa ở huyện Thường Tín. Hồi đó, cánh phóng viên GD chúng tôi tác nghiệp trong một bối cảnh bị động, nơm nớp lo âu bởi cảm giác như “người ta” có thể gạt mình lại bất kỳ lúc nào! (He he he, đúng là thật thiếu kinh nghiệm với các nhà chính trị). Tôi nhớ khi xe chở ông Nhân rời khỏi Hà Đông theo đường quốc lộ 70 tiến về Văn Điển để đi Thường Tín, cả một đoàn nhà báo chạy theo như vịt. Lúc đó trời xâm xẩm tối. Mà hình như trời lại mưa. Đến nhà thầy Khoa, ông Nhân hỏi han mấy câu, rồi tặng thầy cái áo sơ mi và cây bút, thầy Khoa thì phải nói, xúc động đến run lập cập.

Chính ra ông Nhân là người khiến chúng tôi rất bận bịu. Lúc nào cũng hối hả chạy theo. Mà ông Nhân ấy mà, ông ấy khỏe lắm, đi rất nhanh. Chẳng hiểu sao mấy anh cận vệ của ông Nhân (khi ông ấy lên làm Phó Thủ tướng nhưng vẫn kiêm Bộ trưởng Bộ GD-ĐT) rất mẫn cán (quá mức cần thiết)! Tôi là người bị đội ấy chặn lại khá nhiều. Có lần tôi còn khóc nức nở ở sân Bộ GD, vì một cậu cận vệ rất đẹp trai. Về sau tôi với cậu ấy lại hay nói chuyện với nhau mới chết chứ (lược bỏ một đoạn vì có thông tin cá nhân–LTS).

2) Bạn có thu lượm được những kiến thức bổ ích nào trong khi làm việc để áp dụng cho quá trình làm cha mẹ của mình?

NB1: Con tôi mới hơn 2 tuổi và lúc nào tôi cũng thấy mình thiếu thời gian để ở bên cạnh để chơi cùng, lớn cùng con. Tôi thu lượm được nhiều kiến thức, bài học, góc nhìn, v.v để áp dụng cho quá trình làm cha mẹ của mình.

NB2: Rất bổ ích. Bổ ích không phải bởi các lý thuyết và mô hình GD mà Bộ GD-ĐT áp dụng đâu, mà bởi công việc bắt buộc mình phải tiếp cận với một lượng thông tin rất lớn. Ví dụ, người khác muốn tìm hiểu thông tin để chọn trường, tìm lớp học cho con mình thì họ phải tranh thủ làm điều đó khi con họ đã ngủ mà họ thì có thể thức thêm một chút. Còn chúng tôi chẳng cần như thế, bởi chúng tôi có thể dành hết ngày này sang ngày khác tìm hiểu chuyện đó. Hơn nữa, một số bạn đồng nghiệp hoặc bạn bè, người thân quen lại mặc nhiên coi chúng tôi là “chuyên gia”, động việc lại gọi chúng tôi hỏi “ý kiến”. Thế là bộ nhớ của chúng tôi được lục lọi, chủ yếu là lời khuyên của các chuyên gia hoặc các nhà chuyên môn mà chúng tôi từng gặp gỡ tiếp xúc, vì nó quá nhiều nên buộc chúng tôi phải phân tích, xử lý thành thông tin “tinh”. Đôi khi, vì “ban phát” lời khuyên nhiều quá mà chúng tôi cũng tưởng mình là những chuyên gia thật.

3) Báo chí được coi là cơ quan quyền lực thứ tư. Ví dụ, ngay cả trong việc chọn người để phỏng vấn cũng đã ảnh hưởng rất nhiều đến nội dung bài báo. Khi làm về giáo dục, bạn có nhiều cơ hội sử dụng “quyền lực” này của mình không?

NB1: Khi được nghe từ “quyền lực thứ tư” tôi thấy sờ sợ. Tôi đồng ý là “chọn ai để nói điều này” rất quan trọng, đến mức sự thành, bại của bài báo, bản sắc riêng của phóng viên phụ thuộc không ít vào việc “chọn ai” cho mình.
Không phải lúc nào mình cũng đủ trình độ/khả năng/năng lực để sử dụng “quyền lực thứ tư” có hiệu quả đâu. Đôi khi tôi vật vã và bị ám ảnh bởi mình không thực sự hiểu hết mọi ngóc ngách của vấn đề (mà muốn phản ánh, viết bài, nêu vấn đề gì đó thì nguyên tắc “biết 10 viết 1” rất quan trọng). Những lúc như vậy tôi đành phải…thôi không viết nữa chứ làm sao.

NB2: Các tòa soạn thường cũng rất “ba phải”, nên trong nhiều vấn đề họ cũng thường mặc kệ để chuyên gia nào thích nói gì thì nói, vì thế bài sau cãi nhau với bài trước cũng là chuyện không hiếm. Tất nhiên đôi khi chúng tôi cũng phải làm việc trên tinh thần thể hiện quan điểm của tòa soạn. Ở cơ quan cũ, nếu ý kiến tôi bất đồng với ý kiến tòa soạn thì tôi có quyền không làm (và người ta cũng không yêu cầu tôi làm). Ở CQ mới, chuyện này chưa xảy ra nên tôi không rõ thực tế sẽ thế nào. Khi đã làm việc trên tinh thần đưa tin theo quan điểm của tòa soạn, dĩ nhiên phóng viên sẽ tự động tìm đến những nhân vật cùng quan điểm. Nhưng tôi nhận thấy quan điểm của các báo cũng thường vận động chứ không bất di bất dịch. Chẳng hạn như cách đây nhiều năm, mỗi khi đấu tranh bỏ độc quyền SGK thì các báo thường đặt ra mục tiêu để có giá sách rẻ. Gần đây họ chuyển hướng mục tiêu, tức là không cần rẻ nữa (vì đúng là khó mà rẻ hơn được nữa), mà là cần chất lượng. Nói chung có vẻ như vì cái gì cũng không quan trọng, miễn là NXB GD đừng có phải là nơi duy nhất được được xuất bản SGK. (Nói thêm: Đúng là miếng bánh thị trường SGK quá béo bở, cũng phải chia cho các NXB khác chứ NXB GD ôm hết thì quả là bất công, hì hì hì).

Về cá nhân mình, tôi coi trọng sự được việc. Nói chung phỏng vấn ai cũng được, miễn là họ hợp tác với tôi và cho tôi những ý kiến sắc sảo, có chiều sâu, được lòng dư luận (người mua báo) thì càng tốt. Tất nhiên, có những người rất không sẵn lòng hợp tác với báo chí, nhưng vì họ quá được dư luận quan tâm, nên nhiều khi bọn tôi cũng phải tìm mọi cách để tiếp cận. Còn có những người chúng tôi biết phỏng vấn họ thì rất chán, nhưng khổ nỗi họ là quan chức, và ở vị trí đầu mối thông tin của một cơ quan quản lý nhà nước, nên bắt buộc chúng tôi vẫn phải phỏng vấn.

Còn các nhân vật độc lập, tôi thì chưa “kỳ thị” ai, nhưng tôi biết có những đồng nghiệp của mình sau khi thấy một vài nhân vật nào đó “múa may” trên sân khấu giới elite thì tự đưa ra lời nguyền rằng, ông/ bà đừng bao giờ hy vọng được xuất hiện trên báo tôi.

4a) Vấn đề cải cách giáo dục đang rất đuợc quan tâm ở Việt Nam. Có vẻ như một trong những cản trở lớn trong quá khứ là sự cải cách hình thức và thiếu thực chất. Bạn có cảm thấy điều này đang thay đổi?

4b) Ngay cả việc phỏng vấn về giáo dục, nên chăng chúng ta tăng thêm nỗ lực tìm hiểu về cảm nghĩ và trải nghiệm của những thầy cô đang trực tiếp giảng dạy, thay vì những người có thể có bằng cấp cao hơn nhưng thiếu kinh nghiệm thực tế?

NB1: Cải cách giáo dục hiện nay có đang đi vào thực chất hay không, hay vẫn là hình thức. Tôi nghĩ về tổng thể thì vẫn cứ bị “bí bách” ở một chỗ nào đấy. Còn về những thay đổi lẻ tẻ (con người, giải pháp, phương pháp học) thì có thay đổi không chỉ là về hình thức. Nhưng tôi chưa thấy có sự theo đuổi bền bỉ của những/một vài cá nhân có trách nhiệm quản lý giáo dục cho một sự nghiệp giáo dục tiến bộ. Tôi thấy có một số thứ “nhân danh đổi mới”.
Cách đây vài năm, khi làm việc với các cộng sự (các bạn trong ban của tôi đang làm), tôi có nói: Chúng ta cần mở một xu hướng khi tác nghiệp là tiếp cận “từ cơ sở”, “từ thực tế” và các bạn phải ‘moi móc” được nhiều câu chuyện thực tế, nhất là từ phía giáo viên, giảng viên, phụ huynh. Thậm chí, có lúc tôi từng nghĩ mở một tiểu mục nhỏ “Tiếng nói giáo viên” trên báo. Từng là phóng viên và nay làm công tác bếp núc nhiều hơn, tôi hiểu rằng các giáo viên rất ngại nói, ngại chia sẻ, phần vì tâm lý “sợ phiền”, phần nữa là “ghét” báo chí, và không phiền hoặc không ghét nhưng họ bận rộn quá. Tuy vậy, ở một khía cạnh khác, tôi cũng hay nhận được các bài viết, trao đổi và ý kiến của giáo viên. Họ đã đóng góp bao nhiêu nhỉ, tôi chưa thống kê chính xác, nhưng chắc khoảng  10% trong các sản phẩm báo chí mà chúng tôi đang sử dụng. Đó là các bài viết do chính giáo viên thực hiện.
Ngày xưa đi học tôi nhớ được câu “Chi tiết nhỏ tạo nên nhà văn lớn”. Khi đi làm, tôi thấy càng để làm được nhiều việc nhỏ càng khó. Để có nhiều hơn nữa bài viết của giáo viên, để các phóng viên có thể tiếp cận và sử dụng được các phỏng vấn với giáo viên, giảng viên về giáo dục đòi hỏi sự kiên trì, bền bỉ – có lẽ cũng là một tố chất quan trọng của những người làm nghề giáo.
Tôi thì nghĩ là không nên “thay vì”, mà nên có cả hai lựa chọn. Tất nhiên là nên ‘lựa chọn đắt giá’ và cân đối liều lượng. Điều quan trọng là người nói (giáo viên trực tiếp hay những người được cho là thiếu thực tế) có câu chuyện, có lập luận và kiến giải thuyết phục, hướng tới giá trị chung là thúc đẩy sự tiến bộ xã hội.

NB2: Theo tôi, bệnh hình thức là một căn bệnh mãn tính mà GD VN mắc phải, xuất phát từ cách quản lý và điều hành duy ý chí, tính mục tiêu quá cao trong khi điều kiện thực tế không đảm bảo chất lượng sự phát triển. Một lý do nữa khiến những cải cách sa vào hình thức, thiếu thực chất là do sự nóng vội của các nhà chính trị khiến họ can thiệp quá sâu dẫn đến thiếu tôn trọng các nhà chuyên môn, trong khi số lượng nhà chuyên môn có bản lĩnh và quyết liệt theo đuổi đến cùng các quan điểm của mình không nhiều.
Tôi chưa nhận thấy sự thay đổi này một cách rõ ràng trong công cuộc đổi mới căn bản toàn diện mà ngành GD đang triển khai, dù các lý do thì có thể hơi khác với giai đoạn trước. Trong lĩnh vực giáo dục phổ thông, lý do theo tôi là lãnh đạo có thể có nhận thức tốt, nhưng giới làm chuyên môn thì chưa thay đổi về chất lượng so với yêu cầu của thời đại. Không phải là tôi khen lãnh đạo giỏi, mà ý tôi muốn nói sự tiến bộ về nhận thức của lãnh đạo trong đường hướng phát triển giáo dục phổ thông chưa mạnh mẽ, sâu sắc đến mức có thể lan xuống đội ngũ  chuyên môn. Họ hiểu láng máng con đường mà nền giáo dục nước nhà cần đi theo, nhưng họ chưa đủ lý lẽ để thuyết phục cấp dưới ủng hộ, cũng như chưa đủ năng lực lãnh đạo để có các bước chuẩn bị tốt.
Với lĩnh vực giáo dục ĐH, tôi cho rằng điều cản trở nền ĐH thay đổi một cách thực chất là do nó liên quan khá mật thiết tới cách thức tổ chức, điều hành nhà nước. Ví dụ, hiệu trưởng một trường ĐH phải là đảng viên, riêng tiêu chí này cản trở cánh cửa tìm người tài cho công cuộc tìm kiếm hiệu trưởng của các trường ĐH. Tôi hoàn toàn không có ý chê năng lực – trình độ của các nhà khoa học là đảng viên. Nhưng rõ ràng, khi cuộc đua tài chỉ diễn ra giữa các đồng chí đảng viên với nhau thì đỉnh cao của cuộc đua nhiều khả năng sẽ kém xa người thắng cuộc trong một cuộc đua tài mà thành phần mở rộng cho tất cả các trí thức.

(NB2 đề nghị không công khai câu trả lời cho 4b — LTS)